ĐT: (84-4)3 8569433
ĐT: (84-4)3 8569432
Tìm kiếm:  

ĐIỂM SÁCH

DANH MỤC

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
(84-4)3 8569433
(84-4)3 8569432

NHẬN BẢN TIN
Email
     

ĐỐI TÁC
a Fahasa
Phuong Nam Corp
xbook
Mỗi ngày 1 cuốn sách
Nhà sách Hà Nội
Gigabooks
Nguyệt Linh Books - Số 5 Đinh Lễ

Kinh dịch (trọn bộ)

Tác giả: Ngô tất tố   Dịch giả:
Nhà xuất bản: NXB Văn Học
 
Số trang: 894
Kích thước: 16x24cm
Trọng lượng: 1100
Hình thức bìa: bìa cứng
Ngày xuất bản: 01/02/2012
Số lần xem: 1121
Giá bìa: 150.000 VND
Giá bán: 150.000 VND
Giảm giá: 0 VND
 

 

Sách nên mua kèm với sách này

Giá bán tất cả: 152.000 VND

 

Khách hàng mua cuốn sách trên bao giờ cũng mua một trong những cuốn sách dưới đây

 

Giới thiệu về nội dung

1. Lai lịch của kinh dịch

Cứ như Tiên nho - từ Hán nho đến Minh nho, đã nói thì Kinh Dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy, một ông vua về đời thần thoại trong sử Tàu, cũng gọi Bào Hy, không biết cách đây mấy nghìn hay mấy vạn năm. Lúc ấy Hoàng Hà có con long mã) hiện hình lưng nó có khoáy thành đám, từ một đến chín, vua ấy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền, túc là vạch lẻn, để làm phù hiệu cho khí Dương, và một nét đứt, tức là l,vạch chẵn" đề làm phù hiệu cho khí âm. Hai cái vạch đó gọi là hai Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái "hai vạch", gọi là bốn Tượng. Trên mỗi Tượng lại thêm một vạch nữa, thành ra tám cái ',ba vạch'l' gọi là tám Quẻ(2). sau cùng, vua ấy lại đem Quẻ nọ chồng lên Quẻ kia, điên đảo khắp lượt, thành ra sáu mươi tư cái l,sáu vạch", gọi là sáu mươi tư Quẻ(8).

Từ đời Phục Hy đến cuối nhà Thương, Kinh  Dịch vẫn chỉ là một mớ vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu chữ nghĩa gì cả(4). sang đầu nhà Chu (Trước lịch Tây độ hơn nghìn năm Văn vương mới đem những quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ (nguyên hanh lợi trinh ) ở quẻ Kiến, hay chữ (nguyên hanh lợi tân mã chi trinh) ở qué Khôn v.v...

(1) Một con thú trong thần thoại. sẽ có lời chua ở dưới.

(2) Tức là quẻ đơn

(3) Tức là quẻ kép. - Có người nói rằng: Phục Hy chỉ đặt ra tám quẻ đơn. còn sáu mươi tư quẻ kép là của Văn vương đặt ra.

(4) Có người nói rằng: phục Hy dã có đặt tên cho sáu mươi tư quẻ kép

Lời đó vẫn gọi Lời Quẻ  (quán từ) hay Lời Thoán  (thoán từ)

(5) .Kế đó, Cơ Đán, tức Chu công, con trai thứ Văn vương, lại theo số vạch của các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một hào, và dưới mỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu (sơ cửu: tiềm long Vật dụng) hay câu (cửu Như hiện  long tại điền), trong quẻ Kiện và câu (Sơ Lục lý gương kiên băng chí) hay câu (Lục Tay Hàm chương khả trinh trong quẻ Khôn... Lời đó vẫn gọi Lời Hào ~ ~ Hào từ) vì nó phần nhiều đều căn cứ vào hình tượng của các hào, cho nên cũng gọi Lời Tượng (Tương từ)(l).

Tiếp đến Khổng tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là: Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái Thoán truyện có hai thiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng Tướng và Hạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, Tiên nho gọi là "Thập dực (10 cánh)sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa kinh dịch rộng thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách.

Thoáng truyện thích Lời Quẻ của vua Văn, tức là những câu dưới chữ "Lời Thoán nói rằng".

 Tượng truyện thích hình tượng của các quẻ và các hào, tức là những câu dưới chữ "Lời Tượng nói rằngll; thích chung cả quẻ gọi là Đại Tượng, thích riêng từng hào gọi là Tiểu Tượng.

 Văn ngôn chuyên thích hai quẻ Kiến, Khôn.

Hệ từ nói về đại thể, phàm lệ của Kinh Dịch và công phu cùng ý nghĩa trong việc làm Kinh Dịch của Văn vương Chu công.

(5) Chớ lầm vời Lời Thoán của Khổng tử. Trong bản dịch này, Lời Thoán của Văn vương ở ngay đầu các quẻ, trên nó không có gì nữa. Còn Lời Thoán của Khổng tử tức là Thoán triện thì ờ liền dưới Lời Thoán của Văn vương, và bắt đầu bằng bốn chữ "Lời Thoán nói rằng". (1) Chớ lầm với Lời Tượng của Khổng tử. Trong bản dịch này, Lời Tượng của Khổng tử, tức là Tượng truyện, đầu bài bằng chữ "Lời Tượng nói rằng", còn Lời Tượng của Chu công

Thuyết quái nói về đức nghiệp, pháp tượng và sự biến hóa của tám quẻ.

Tự quái nói về những cớ tại sao quẻ này lại để ở dưới quẻ kia.

Tạp quái nói về những ý vụn vặt của các quẻ.

Những thiên của Không tứ, trước vẫn tách riêng, không phụ hẳn vào lời quẻ, lời hào của Văn vương Chu công. Đến đời Hán, Phi Trực mới đem Thoán truyện, Tượng truyện và Văn ngôn thuộc về quẻ Kiến hợp với kinh Dịch của Văn vương Chu công, để thay vào lời chú thích. Rồi, Trịnh Huyền lại sáp nhập nốt những câu Văn ngôn của quẻ Khôn và Thoán truyện, Tượng truyện của các quẻ kia. Từ đó bảy thiên Thoăn truyện, Tượng truyện, Văn ngôn mới xen vào trong các quẻ. Còn ba thiên kia thì để phụ riêng ở cuối sách. Tới đời Tống, Chu Hy làm sách Chu Dịch bản nghĩa đã sắp đặt lại như cũ, nhưng mà người ta không theo. Những bản được thịnh hành trong hồi gần đây, vẫn là thể tài của bọn Phí Trực, Trịnh Huyền. Nay nói chính văn KinhDịch, tức là gồm cả: vạch quẻ của Phục Hy, lời quẻ của Văn vương, lời hào của Chu công, và Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái và Tạp quái của Khổng tử.

Đó là theo lời tựa truyền của Tiên nho mà thuật ra, để độc giá biết qua lai lịch Kinh Dịch là vậy. 

2. KHÁI LUẬT CỦA KINH DỊCH Dù sao mặc lòng, Kinh Dịch vẫn là một cuốn sách lạ trong văn học giới của nhân loại. Thể tài sách này không giống một cuốn sách nào. Bởi vì cái gốc của nó chỉ là một nét vạch ngang, do một nét vạch ngang, đảo điên xoay xỏa thành một bộ sách, vậy mà hầu hết chi tiết ở trong, đều có thể thống luật lệ nhất định, chứ không lột xộn. Trước khi đọc, phải viết qua loa những thể thống luật lệ ấy, thể sau mới dễ nhận hiểu. Vậy nay, theo sự kê cứu của Tiên nho, nét qua ít điều quan hệ trong những thể thống luật lệ đó, như sau:

Quẻ. Quẻ có hai thứ: Một là quẻ đơn, tức là tám quẻ: Kiến, Khảm, Cán, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, mỗi quẻ có ba nét ngang, Chu Hy gọi là l,quẻ ba vạch'l' Hai là quẻ kép, tức là sáu mươi tư quẻ đo tám quẻ đơn đắp đổi chồng nhau mà thành ra, như quẻ Hàm, quẻ Hằng, quẻ Đại tráng, quẻ Gia nhân. . . các quẻ này mỗi quẻ có sáu nét ngang, Chu Hy gọi là l,quẻ sáu vạch,' Cả hai thứ đó, trong sách đều gọi là quẻ ít quái), thật ra, tính chất rất không giống nhau, quẻ đơn là những yếu tố làm nên quẻ kép, mà quẻ kép thì là hợp thể của hai quẻ đơn chồng nhau. 

Hào. - Hào là vạch ngang của quẻ kép, mỗi quẻ sáu vạch, tức là sáu hào. Thứ tự bắt đầu từ dưới kể lên, dưới nhất là hào Đầu, đến hào Hai, đến hào ca, đến hào Tư, đến hào Năm, cuối cùng là hào Trên. Hào cũng chia làm hai thứ: Những hào thuộc nét ngang liền, là hào Dương; những hào thuộc nét ngang đứt, là hào âm. Ví như quẻ Chuẩn, do hai quẻ Chấn, Khảm hợp lại mà thành ra, thì hào Đầu, hào Năm là Dương, hào Hai, hào Ba, hào Tư, hào Trên là âm. Ớ lời Kinh, hào Dương gọi là hào Chín, hào âm gọi là hào Sáu. Ví như quẻ Chuẩn: hào Đầu gọi hào Chín Đầu ( Sơ Cửu), hào Hai gọi hào Sáu Hai (Lục Nhị v.v... Sớ dĩ gọi vậy, - theo Tiên nho - là vì khí Dương số bảy là trẻ, số chín bà già, khí âm số tám là trẻ, số sáu là già, già thì biến đổi, chứ trẻ thì chưa biến đồn Kinh Dịch chú trọng ớ sự biến đổi, cho nên mới lấy số Chín làm tên hào Dương và lấy số Sáu làm tên hào âm.

Tính của quẻ và các hào. - Tám quê đơn, mỗi quẻ đều có tính riêng, đại khái, tính Kiên thì mạnh, tính Khôn thì thuận. tính Chấn thì động, tính Tốn là nhún, tính Còn hay đậu, tính Đoái hay đẹp lòng, tính Ly có khi thì sáng, có khi là trống rỗng, tính Khảm có khi là hiểm, có khi là đầy đặc. Vậy ớ sách này, nói mạnh là chỉ về Kiến, nói thuận là chỉ về Khôn, nói động là chỉ về Chấn, nói nhún là chỉ về Tốn, nói đậu là chỉ về Căn, nói đẹp lòng là chỉ về Đoái, nói sáng hay trống rỗng là chỉ về Ly, nói hiểm hay đầy đặc là chỉ về Khảm. - Còn hào, thì hào Dương tất nhiên cứng mạnh thích động và hay đi lên, hào âm tất nhiên mềm yếu thích lĩnh và hay đi xuống. Vậy ở sách này, nói cứng là chỉ về hào Dương, nói mềm là chỉ về hào âm.

Tượng của quẻ và hào. - Tám quẻ đơn đều làm biểu hiện cho các vật ở vũ trụ, mỗi quẻ là hình tượng của một hoặc nhiều vật. Ví như Kiện là tượng trời, lại là tượng con rồng; Khôn là tượng đất, lại là tượng con trâu; Chấn là tượng tiếng sấm, lại là tượng cái cây Khảm là tượng nước, lại là tượng mây, tượng mưa; Tốn là tượng gió; Ly là tượng lứa; Còn là tượng núi; Đoái là tượng chầm... Đó là nói qua, sau đây đọc đến các que sẽ thấy rõ hơn. Còn hào, tự nó không có tượng riêng, vì không chuyên hình dung cho vật gì, nhưng khi đã hợp nhau lại thành quẻ, thì cũng có khi có tượng. Ví như hào giữa quẻ Khảm là tượng "đầy đặc", bới vì hào ấy là nét ngang liền, đứng giữa hai nét ngang đứt, giống như một vật đặc giữa; hay như hào giữa quẻ Ly là tượng "trống rỗng bên trong", bởi vì hào này là nét ngang đứt, đứng giữa hai nét ngang liền, giống như một vật rỗng ruột vậy.

Sự áp dụng của hào và quẻ . - Trong kinh Dịch phần của Văn vương Chu công chú trọng ớ sự bói toán, phần của Không Tứ chú trọng ở cách tu thân xử thế của từng người, đó là điều rất rô rệt. Dù là việc bói toán, dù là cách tu thân xử thế, cũng đều phải lấy nhân sự làm căn cứ, vì vậy, người ta mới chia mỗi quẻ ra làm ba thứ: thì, ngôi và người.

Thì là thời kỳ. Trong sáu mươi tư que kép, mỗi que là một thời kỳ. Ví như quẻ Thái tức là thời kỳ hanh thái, quê Bĩ tức là thời kỳ bế tắc v.v... Trong mỗi quẻ, hào Đầu là đầu thời kỳ, hào Trên là cuối thời kỳ, còn các hào giữa, cố nhiên là giữa thời kỳ. Đó là nói về đại khái, chính ra một quẻ có khi không chỉ về một thời kỳ mà chỉ về một công cuộc, ví như các que Tốn, ích. Tỵ, Tụng v.v...

Nhưng về nghĩa này rất ít.

Ngôi là thứ tự của các hào. Mỗi quẻ sáu hào, tức là sáu ngôi Theo lời chú thích của Tiên nho, nhất là lời chú thích của Trình Di và Chu Hy, thì trong một quẻ, hào Đầu là ngôi thứ dân, hào Hai là ngôi tư mục, hào Ba là ngôi quan Khanh, quan Đại phu, hào Tư......

Mời các bạn đón đọc

 

 

Báo chí giới thiệu



 

 

Công ty TNHH Văn Hóa Hương Thủy

Địa chỉ:19 Phố Đông Các, Phường Ô Chợ Dừa, Q.Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: +84. 438569432     Fax: +84 4.38569433

Email: nhasachhuongthuy@gmail.com;  Website : nhasachhuongthuy.com